ngày tháng năm

Thứ Tư, 6 tháng 9, 2017

Một khi đuọc giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi




"MỘT KHI ĐƯỢC GIƯƠNG CAO LÊN KHỎI MẶT ĐÁT,
TÔI SẼ KÉO MỌI NGƯỜI LÊN VỚI TÔI"

Lời này của Đức Giê-su thật tuyệt diệu và chứa đựng điểm mấu chốt của Ki-tô giáo. Lễ Vượt Qua của người Do-thái đã đến gần. Trong số những người lên Giê-ru-sa-lem mừng lễ, có mấy người Hy-lạp xin được "gặp ông Giê-su". Các môn đệ đến thưa với Đức Giê-su và Người trả lời bằng cách nói về cái chết sắp đến nơi rồi của mình. Nhưng Người thêm rằng thay vì khiến cho các môn đệ phân tán khắp tứ phương–là điều rất có thể xảy ra–thì cái chết của Người sẽ kéo "mọi người" đến với Người, ngõ hầu không những chỉ có các môn đệ của Người mà hết thảy mọi người, dù là Do-thái hay Hy-lạp, sẽ tin vào Người: hết thảy mọi người, không phân biệt chủng tộc, địa vị xã hội hoặc đàn ông, đàn bà (xem Gl 3,28).

Thứ Bảy, 16 tháng 7, 2016

“Xin hãy làm một Do-Cat”

Thuận Kiệt


Thứ Tư, 13-07-2016 | 21:11:48 (tinhdongchuacuuthe.com)

“Tôi ước mơ có được một triệu người trẻ Kitô hữu, hoặc thậm chí còn nhiều hơn nữa, cả một thếhệ những người đương thời cùng ‘đi bộ, nói chuyện học thuyết xã hội’. Không gì khác sẽ thay đổi thế giới mà là những con người cùng với Chúa Giêsu dấn thân cho thế giới, cùng với Ngài đến với những người sống bên lề xã hội và giữa lấm lem của cuộc đời” – Đức Giáo hoàng Phanxicô (trong Lời nói đầu chưa phát hành của DOCAT)
Để khởi động một phong trào toàn cầu thu hút những người trẻ học hỏi Học thuyết Xã hội của Giáo Hội, Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ chia sẻ một ứng dụng mới miễn phí cho người tham dự Ngày Giới Trẻ Thế Giới sắp tới tại Krakow, Ba Lan. Đó là ứng dụng được mệnh danh là DOCAT.

20160713 docat 1

DOCAT – bản văn chính thức về Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công giáo dành cho người trẻ – sẽ được chính thức phát hành trong  Đại hội Giới trẻ Thế giới 2016.

Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2016

“Tình yêu được ghi khắc trong chính bản chất của Giáo hội”

Bình luận của Chiara Lubich về Thông Điệp “Thiên Chúa Là Tình Yêu”
Đan Quang Tâm dịch

“Thiên Chúa là Tình Yêu”. Ta phải cảm thấy hết sức biết ơn Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đic-tô từ giây phút tiêu đề của thông điệp đầu tiên của ngài được loan báo! Ngài nhóm lên trong ta ngọn lửa hy vọng – hy vọng rằng lời loan báo lớn “Thiên Chúa là Tình Yêu”, rằng từ “tình yêu" đã đem lại “vẻ huy hoàng ban đầu”, có thể tuôn tràn đến vô hạn, như một hòn đá ném xuống nước và làm lan tỏa những vòng tròn càng lúc càng lớn hơn. Sự quan tâm của giới truyền thông đại chúng, ngay cả trước khi thông điệp được trình bày và sự quan tâm hiện nay còn nhiều hơn nữa, là một lời tiên tri về những gì sẽ đến.

“Thiên Chúa là Tình Yêu” chắc chắn là lời Chúa Giê-su muốn nói ngày hôm nay trong thiên niên kỷ mới này.

Thứ Ba, 31 tháng 5, 2016

Lời Sống tháng 5 năm 2016

Fabio Ciardi - Dấu Lặng dịch

Người sẽ ở cùng họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên-Chúa-ở-cùng-họ. (Khải Huyền 21,3)

Lời Sống tháng 5 năm 2016

Thiên Chúa luôn mong muốn được ở đời với chúng ta, dân Người. Ngay từ những trang đầu tiên, Kinh Thánh cho thấy Thiên Chúa từ trời xuống, đi dạo trong vườn chuyện trò với Adam Eva. Lẽ nào Người chẳng tạo dựng chúng ta vì điều này? Một người đang yêu muốn gì nếu chẳng phải là kề cận bên người mình yêu? Sách Khải Huyền, nghiên cứu thấu đáo kế hoạch của Thiên Chúa trong lịch sử, cho chúng ta biết chắc chắn rằng niềm ao ước của Thiên Chúa sẽ nên trọn vẹn.

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2016

PHẢI VÂNG LỜI THIÊN CHÚA HƠN VÂNG LỜI NGƯỜI PHÀM

Chiara Lubich
Đan Quang Tâm
dịch

Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm (Cv 5,29) 

Các tông đồ đã làm phép lạ và những việc lạ lùng, và đã bị tống ngục. Sau khi được thiên sứ giải thoát, các ông lại tiếp tục giảng dạy trong đền thờ.

Thượng tế liền triệu tập Công nghị và phái thuộc hạ đến ngục để đem các tông đồ ra trước hội đồng. Họ thấy nhà giam trống liền quay về báo cáo sự việc. Khi các tông đồ bị phát hiện và điệu ra trước Thượng Hội Đồng, Thượng tế liền tra vấn các ông, bảo rằng: " Chúng tôi đã nghiêm cấm các ông không được giảng dạy về danh ấy nữa..." Nhưng Phêrô và các tông đồ đáp lại rằng:

Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm 

Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2016

"AI MUỐN THEO TÔI..."

Chiara Lubich
Đan Quang Tâm
dịch 

"Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo"

Đừng nghĩ rằng chỉ vì bạn đi ngoài đường phố mà bạn có thể nhìn mọi thứ quảng cáo không phân biệt thượng vàng hạ cám và có thể ghé vào sạp báo hoặc hiệu sách để mua bất kỳ ấn phẩm nào. Đừng nghĩ rằng chỉ vì sống trên đời mà bạn có thể chấp nhận mọi thứ ở đời, chẳng hạn như một nền luân lý dễ dãi, việc phá thai, ly dị, hận thù, bạo động hoặc hành vi bất lương. Không! Không! Bạn sống trên đời: không ai chối cãi điều ấy cả. Nhưng bạn là người Ki-tô hữu; cho nên, bạn không thuộc về thế gian.

Sự kiện này làm nên một sự khác biệt lớn lao. Bạn thuộc vào số những người không sống theo lời của thế gian, mà theo tiếng nói của Thiên Chúa trong thâm tâm bạn. Thiên Chúa sống trong tâm hồn mọi người. Nếu bạn lắng nghe, Người sẽ đưa bạn vào một vương quốc không thuộc thế gian này, một vương quốc sống tình yêu đích thực, sống những giá trị công bằng, thanh sạch, hiền lành, sự khó nghèo Phúc Âm, nơi mà sự tự chủ, tự chế là quy tắc mẫu mực.

AI TIN THÌ ĐƯỢC SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI

Chiara Lubich
Đan Quang Tâm
dịch

Thật, tôi bảo thật các ông, ai tin thì được sự sống đời đời (Ga 6, 47)

Những lời này được lấy từ diễn từ bánh sự sống mà Đức Giêsu đưa ra tại hội đường Caphácnaum theo sau phép lạ bánh và cá. Đức Giêsu nói với đám đông đã tìm kiếm Người sau khi ăn bánh mà Người đã hóa ra nhiều. Người bảo họ rằng họ không nên tìm kiếm Người để được ăn bánh mau hư nát, nhưng hãy có thứ bánh thường tồn và chỉ mình Người mới có thể ban tặng. Bánh này là chính Người, lời Người. Người là bánh sự sống đã từ trời xuống để ban cho ta sự sống đời đời.

Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2016

"AI MUỐN THEO TÔI..."

"Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo"

Chiara Lubich
Đan Quang Tâm
 dịch


Đừng nghĩ rằng chỉ vì bạn đi ngoài đường phố mà bạn có thể nhìn mọi thứ quảng cáo không phân biệt thượng vàng hạ cám và có thể ghé vào sạp báo hoặc hiệu sách để mua bất kỳ ấn phẩm nào. Đừng nghĩ rằng chỉ vì sống trên đời mà bạn có thể chấp nhận mọi thứ ở đời, chẳng hạn như một nền luân lý dễ dãi, việc phá thai, ly dị, hận thù, bạo động hoặc hành vi bất lương. Không! Không! Bạn sống trên đời: không ai chối cãi điều ấy cả. Nhưng bạn là người Ki-tô hữu; cho nên, bạn không thuộc về thế gian.

Thứ Tư, 24 tháng 2, 2016

CHIÊN CỦA TÔI THÌ NGHE TIẾNG TÔI; TÔI BIẾT CHÚNG VÀ CHÚNG THEO TÔI (Ga 10,27)

Chiara Lubich
Đan Quang Tâm
dịch

Lời này là một phần trong một cuộc tranh luận quan trọng đã xảy ra tại hành lang Đền thờ Giêrusalem giữa Đức Giêsu và các đối thủ của Người.

Trước đó, Đức Giêsu đã nói rằng để trở thành môn đệ của Người và giữ lời Người thì phải được Chúa Cha kêu gọi và ban ơn lôi kéo đến với Người (Ga 6,44-45). Đương nhiên, Người muốn ban ơn này cho mọi người. Nhưng có một điều kiện: điều quan trọng là phải biết mở lòng ra, sẵn sàng đón nhận sự thật bằng cách lắng nghe tiếng của Người. Điều này được mô tả trong dụ ngôn Vị Mục Tử Nhân Lành (Ga 10,1-16) mà Lời Chúa của chúng ta nói đến.

Chiên được nói đến ở đây không phải chỉ là những người tin vào Đức Giêsu nhưng đúng hơn những ai đã đạt đến sự phát triển đầy đủ về đức tin và sự bỏ ngỏ đối với Đức Giêsu. Đức Giêsu lôi cuốn những người này vào trong một sự hiệp thông và thân tình với Người dựa trên sự tự giác ý thức và sự cho đi lẫn nhau.

Những người này “nghe tiếng Đức Giêsu” – dường như họ đã có một bản năng nhận ra sự hiện diện của Người, một khả năng nhạy bén về Người. Không những thế, họ lại càng đồng thanh đồng điệu hơn với các tình cảm và giáo huấn của Người. Họ có khả năng phân định thiêng liêng giúp họ phân biệt rõ giữa một lối suy nghĩ hoặc lối sống hòa điệu với lời dạy của Đức Giêsu (và vì vậy họ chấp nhận) và một lối suy nghĩ hoặc lối sống đối nghịch với lời dạy của Người (dẫn đến chỗ họ khước từ).

Đức Giêsu “biết những người này” như Người “biết chiên của Người”. Điều này có nghĩa là Người biết họ thuộc về Người, và Người yêu họ bằng một tình yêu rất đặc biệt. Người ban cho họ bình an và niềm vui mà chỉ có Người mới có thể ban và không ai có thể lấy đi khỏi tâm hồn họ.

Bởi thế những người này “theo Đức Giêsu”, như chiên “theo chủ chiên của mình”. Nói cách khác, họ đem ra thực hành giáo huấn của Người dường như đang làm một điều hết sức tự nhiên bởi vì việc thực hành đó đã trở thành bản tính thứ hai của họ. Như vậy những việc khó cũng trở nên dễ.
Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi.

Đức Giêsu không có ý nói lời này cho một nhóm người giới hạn và dành riêng, mà cho mọi người muốn làm môn đệ của Người. Ta không được tự đắc để rồi ở lại trong bất kỳ giai đoạn nào của đời sống Kitô hữu. Ta được kêu gọi đến với tình bạn chân thật và sự thân mật cá nhân với Đức Giêsu. Đây là hoa trái của ân sủng Người hoạt động. Đức Giêsu muốn tình bạn giữa ta với Người tăng trưởng đến mức không bao giờ ta xa tách Người, cho dủ bất kỳ sự gì xảy ra. Người muốn ta kiên vững và không giao động khi đương đầu với bất kỳ tình huống khiếp sợ nào, những học thuyết thường xuyên thay đổi, hoặc một loạt những cám dỗ. Người muốn ta vững vàng và không lay chuyển bởi vì ta đã học qua kinh nghiệm rằng Đức Giêsu là Sự Thật, Người là niềm vui, và Người là Sự Sống. Rồi ta sẽ là các Kitô hữu đích thực, có khả năng làm chứng cho Người trước thế gian, và xứng đáng với sự tin tưởng lớn nhất của Người.

Nhưng làm thế nào ta có thể đạt đến điểm này? Trong ta, ta có khả năng phát triển một thái độ bỏ ngỏ đối với Đức Giêsu mà ta đã nói ở trên. Trên hết mọi sự, ta có thể sống Lời Người, không quên cầu nguyện và học hỏi Lời Chúa. Ta có thể đạt đến điểm này bằng cách đồng thanh đồng điệu với tiếng của Đức Giêsu hàng ngày hàng giây không ngừng nói trong sâu thẳm tâm hồn ta.

Rõ ràng lời Đức Giêsu luôn bảo ta hãy yêu mọi người ta gặp. Đây là điều ta sẽ cố làm trong những ngày tới.

Thứ Năm, 18 tháng 2, 2016

AI MUỐN LÀM NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU

Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người. (Mc 9,35)

Một ngày kia Đức Giêsu hỏi các môn đồ: "Dọc đường, anh em đã bàn tán điều gì vậy?" Các ông làm thinh, vì khi đi đường, các ông đã cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả. Vậy Người ngồi xuống, gọi Nhóm Mười Hai lại mà nói: "Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người." (x. Mc 9,33-35)

Tham vọng làm người lớn nhất của các tông đồ cho thấy họ vẫn còn có một quan niệm trần thế về nước mà Đức Kitô đã thiết lập. Thay cho quan niệm đó, lời của Đức Giêsu thật rõ ràng và mang tính cách mạng.

Thứ Hai, 15 tháng 2, 2016

NGƯỜI TA SỐNG KHÔNG CHỈ NHỜ CƠM BÁNH

Chiara Lubich
Đan Quang Tâm
dịch

Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh.

Lời này đến từ trình thuật Đức Giêsu chịu cám dỗ. Sau khi chịu phép rửa trên bờ sông Gio-đan, trong đó Người đã được tuyên là Con Thiên Chúa và Đức Chúa Thánh Thần đã xuống trên Người. Đức Giêsu đi vào sa mạc để chuẩn bị cho sứ vụ công khai. Trong cuộc tĩnh tâm bao gồm việc cầu nguyện và ăn chay, Người bị quỉ cám dỗ về tư cách Thiên Chúa và tư cách Mêsia. Về thực chất tên cám dỗ Người – tư xưng là ‘chúa tể thế gian' – tìm cách để Đức Giêsu phải tự khẳng định mình, sử dụng các đặc quyền với tư cách là Con Thiên Chúa để thỏa mãn các nhu cầu vật chất của con người, để chiếm được sự đồng tình tán thưởng của dân chúng và để chiếm hữu quyền lực.

Thứ Ba, 5 tháng 1, 2016

"THƯA THẦY, BỎ THẦY THÌ CHÚNG CON BIẾT ÐẾN VỚI AI? THẦY MỚI CÓ NHỮNG LỜI ÐEM LẠI SỰ SỐNG ÐỜI ÐỜI" (Ga 6, 68)

Chiara Lubich
Ðan Quang Tâm
dịch

Khi các đoàn lũ dân chúng tuốn đến với Người, Ðức Giê-su nói về Nước Thiên Chúa (Xem Lc 9, 11). Người dùng lời nói giản dị, những dụ ngôn lấy từ cuộc sống hàng ngày, ấy vậy mà các lời của Người có sức lôi cuốn đặc biệt. Dân chúng say mê những lời giảng dạy của Người, "vì Người giảng dạy họ như một Ðấng có thẩm quyền, chứ không như những kinh sư của họ" (Mt 7, 29). Cũng vậy, khi các vệ binh đền thờ được phái đi bắt Người được các thượng tế và người Pha-ri-sêu hỏi tại sao không điệu Người về, thì họ trả lời: "Xưa nay chưa hề đã có ai nói năng như người ấy" (Ga 7, 46).

NẾU CHÂN ANH LÀM CỚ CHO ANH SA NGÃ…

Chiara Lubich
Đan Quang Tâm dịch

"Nếu chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một chân mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai chân mà bị ném vào hỏa ngục"


Đây là những lời làm ta sững cả người. Đức Giêsu bảo ta hãy chặt chân, chặt tay và móc mắt nếu chân ta, tay ta, mắt ta khiến ta phạm tội. Hẳn rằng những lời này có đầy đủ sức mạnh của một thanh gươm hai lưỡi (xem Dt 4,12), nhưng ta biết rằng không được hiểu theo nghĩa đen. Ý nghĩa muốn nói ở đây là trước bất kỳ dịp tội nào, ta phải sẵn sàng khước từ tất cả, kể cả những gì và những người mà ta rất yêu dấu, còn hơn để mất đi điều thực sự quý giá: "được vào cõi sống", nghĩa là được hiệp thông với Thiên Chúa và được cứu độ.

20 TƯ TƯỞNG CỦA CHIARA LUBICH

Đan Quang Tâm

Vài lời giới thiệu của người dịch về tác giả:

“Quyển sách ánh sáng Thiên Chúa đang viết trong linh hồn tôi có hai khía cạnh: Một trang sáng chói về tình yêu mang tính nhiệm mầu: Hợp nhất. Một trang sáng chói về sự đau khổ mang tính nhiệm mầu: Đức Giêsu bị bỏ rơi. Đó là hai mặt của cùng một đồng tiền”.

Chiara Lubich đã viết mấy dòng trên ngày 30 tháng 3 năm 1948. Qua mấy lời vắn tắt này, chị đã diễn tả rõ ràng các yếu tố căn bản trong linh đạo của mình, một nền linh đạo hợp nhất và hiệp thông, đã và đang ảnh hưởng đến cuộc đời của hàng triệu người khắp thế giới.
Chiara Lubich sinh ngày 22 tháng 1 năm 1920 tại Trento, Ý và mất ngày 14 tháng 3 năm 2008. Là một nhà lãnh đạo tôn giáo và nhà văn nổi tiếng quốc tế, bà là người sáng lập và là chủ tịch Phong Trào Focolare (có mục đích hợp nhất mọi người thuộc nhiều tôn giáo và tín ngưỡng khác nhau, nhất là giữa những người Kitô hữu) hiện nay đang có mặt tại 182 nước.
Một số tư tưởng của Chiara Lubich mà chúng tôi trích dịch, lấy từ quyển sách nhỏ có tên No Thorn Without a Rose: 99 Sayings by Chiara Lubich (Trong Gai Lại Có Hoa Hồng: 99 Tư Tưởng của Chiara Lubich).

Thứ Tư, 30 tháng 12, 2015

KHI CẦU NGUYỆN


Chiara Lubich
Đan Quang Tâm dịch

Khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo
(Mt 6,6)

Lời này của Đức Giêsu lấy từ bài giảng trên núi, phần nói về làm phúc, cầu nguyện và ăn chay. Bắt đầu từ những tập tục này, đã luôn luôn chiếm một vị trí rất quan trọng trong đời sống đạo của Dân Chúa, Đức Giêsu giải thích thái độ nên có nơi một môn đệ đích thực của Người khi làm những việc lành này.

Như thường lệ, ngôn ngữ Đức Giêsu sử dụng rất cụ thể, bắt đầu từ đời sống hàng ngày. Bàn về cầu nguyện, mọi người đều biết quá rõ về hành vi của những người thích “đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy”. Đức Giêsu nói rằng các môn đệ của Người phải làm ngược lại, hãy vào phòng, chỗ khuất nhất trong nhà, nơi chẳng có ai trông thấy và nghe thấy mình, ngoại trừ Cha.

Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2015

"Phúc Cho Ai Có Tâm Hồn Nghèo Khó, Vì Nước Trời Là Của Họ" (Mt 5,3)

Chiara Lubich
Ðan Quang Tâm
dịch

Ðức Giê-su vừa mới bắt đầu cuộc sống công khai: Người mời gọi người ta hoán cải tâm hồn, Người loan báo Nước Thiên Chúa đã gần đến, và Người chữa lành mọi loại bệnh hoạn và tật nguyền. Các đám đông bắt đầu đi theo Người. Người lên núi và bắt đầu giảng dạy cho những người tụ họp quanh Người, giải thích chương trình của Người cho một đời người trong bài giảng được gọi là "bài giảng trên núi".

Ðức Giê-su đưa ra cách tiếp cận mới mẻ ngay từ đầu bài giảng. Người loan báo rằng không phải những người giầu có, người nắm quyền hành, người có thế lực mới được xem là có phúc mà là những người nghèo khó, khiêm tốn, nhỏ bé, người có tâm hồn trong sạch, người sầu khổ và bị áp bức.

"Phúc Cho Ai Xót Thương Người, Vì Họ Sẽ Ðược Thiên Chúa Xót Thương"

Chiara Lubich
Ðan Quang Tâm
dịch

Nếu có một từ được tìm thấy trong Kinh Thánh diễn tả mặc khải về Thiên Chúa nơi Ðức Giê-su Ki-tô nhiều hơn những từ khác thì từ đó chính là từ xót thương.

Trong cuộc thần hiện uy nghiêm ở Si-nai, Chúa mạc khải cho ông Mô-sê: "Chúa là Thiên Chúa nhân hậu và từ bi… giữ lòng nhân nghĩa với muôn ngàn thế hệ" (Xh 34,6-7).

Vào buổi bình minh của ngày Ðấng Mê-si-a, Ma-ri-a loan báo với bà E-li-sa-bét rằng Ðấng Toàn Năng đã nhớ lại lòng thương xót của Người (xem Lc 1,54) và Ðấng mà mẹ đang thụ thai trong lòng làm chứng điều này. Như vậy, trong Ðức Giê-su, con Thiên Chúa và con Ðức Ma-ri-a, tình phụ tử và tình mẫu tử của Thiên Chúa kết hợp với nhau. Ðiều này được diễn tả rõ trong hai từ tiếng Do thái dùng để mô tả lòng thương xót, đó là một thái độ sâu xa của lòng tốt, của lòng nhân hậu thể hiện lòng thành tín của Thiên Chúa đối với chính Người và tình mẫu tử đối với mọi người.

Nhưng điều gì làm cho lòng thương xót trở nên mạnh mẽ cho đến nỗi vượt trội cả đức công chính (xem Lc 1,54)?

Và tại sao Ðức Giê-su lại gán cho nhân đức này tầm quan trọng cho đến mức đặt nó làm điều kiện cho ơn cứu độ cá nhân?

Thứ Ba, 15 tháng 12, 2015

“KẺ SỐNG THEO SỰ THẬT THÌ ĐẾN CÙNG ÁNH SÁNG” (Ga 3,21)

Chiara Lubich
Đan Quang Tâm
dịch

“Kẻ sống theo sự thật thì đến cùng ánh sáng”
“Sống” sự thật là gì? Ta “học” biết sự thật; ta nói sự thật… Nhưng Ðức Giê-su thì “sống” sự thật. Bao giờ mà Ðức Giê-su chẳng làm ta ngạc nhiên.

Đến như Ni-cô-đê-mô, một bậc thầy trong dân Do Thái và là một thành viên của Thượng Hội Đồng, cũng phải một phen sửng sốt. Ông đến hỏi Ðức Giê-su làm thế nào để vào Nước Thiên Chúa. Ðức Giê-su trả lời rằng phải tái sinh, nghĩa là ông phải chấp nhận sự sống mới mà Ðức Giê-su đã mang đến thế gian và hãy để cho mình được sự sống ấy biến đổi tự bên trong cho đến khi trở thành con Thiên Chúa và có như vậy mới vào được thế giới của Người. Ơn cứu độ là hồng ân từ Trên Cao, hơn là một thành quả do công lao của con người.

Ni-cô-đê-mô đến với Ðức Giê-su ban đêm, trong bóng tối, khi ra về tràn đầy ánh sáng.

Thứ Hai, 14 tháng 12, 2015

CÁC TÍN HỮU HỢP NHẤT, ĐỂ MỌI SỰ LÀM CỦA CHUNG


Chiara Lubich
Đan Quang Tâm
dịch

Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung (Cv 2,44)

Trong câu này, tác giả Tông đồ Công vụ, Phúc âm gia Luca, tường thuật ngắn gọn và có phần lý tưởng hóa cho ta về cuộc sống của cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi tại Giêrusalem. Các Kitô hữu được trình bày như những người cùng sống với nhau tại cùng một nơi.

Nhưng đối với Luca việc cùng ở bên nhau này có nhiều ý nghĩa hơn chỉ là một cuộc họp nhóm. Đó là sự thể hiện tinh thần hợp nhất của Hội Thánh do Đức Chúa Thánh Thần đem lại. Qua đức tin và phép rửa, Đức Chúa Thánh Thần làm cho tất cả các người tin trở nên đồng tâm nhất trí trong Đức Kitô. Sự hợp nhất này được diễn tả thông qua tình hiệp thông huynh đệ và dấu hiệu trông thấy rõ nhất là việc họ để của cải vật chất làm của chung.

Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung.

Vì có một số Kitô hữu đã bán đất đai và lấy số tiền bán được để cho cộng đoàn sử dụng, nên Luca nhân dịp trình bày quy tắc cơ bản truyền cảm hứng cho mọi cộng đoàn Kitô hữu: việc đặt của cải làm của chung. Cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên tại Giêrusalem được trình bày như mô hình cụ thể phải được lưu truyền sống động bởi các cộng đoàn khác trong quá trình phát triển theo giòng lịch sử.

Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung.

Ở đây xem như việc đặt của cải làm của chung phát xuất từ sáng kiến tự do của mỗi người. Các Kitô hữu vẫn còn là những chủ sở hữu các tài sản của họ. Tuy nhiên, dù tự nguyện, việc chia sẻ tài sản của mình với những ai đang túng thiếu lại là một hệ quả lôgic và tự phát của việc cùng thuộc về một thân thể Đức Kitô. Bằng cách này, tất cả quyền năng của đức tin và tình yêu Kitô giáo được thể hiện. Cộng đoàn tại Giêrusalem cung cấp một chứng từ sống động về khả năng xây dựng một thế giới mới. Đó vừa là một mô hình vửa là lý tưởng của xã hội lý tưởng mà các ngôn sứ đã tiên báo và Đức Giêsu khởi xướng, có đặc điểm là tinh thần huynh đệ đích thực giữa toàn bộ các thành viên dưới cái nhìn của cùng một Cha.

AI MUỐN LÀM LỚN GIỮA ANH EM THÌ PHẢI LÀM NGƯỜI PHỤC VỤ ANH EM (Mc 10,43)

Chiara Lubich
Đan Quang Tâm
dịch

Giacôbê và Gioan, hai trong số các môn đồ, tiến lại Đức Giêsu để hỏi Người một câu đáng ngạc nhiên. Họ muốn biết xem Người có cho phép họ được ngự trong vinh quang của Người, một ngồi bên phải và một ngồi bên trái. Thầy thì muốn họ có khả năng chịu khổ theo cách Người chịu. Khi họ hăm hở trả lời có, tự tin vào sức mình, Người giải thích rằng các chỗ ngồi mà họ mơ ước được dành cho những ai đã được Thiên Chúa chuẩn bị.

Các tông đồ khác đâm ra tức tối vì câu hỏi của Giacôbê và Gioan với Đức Giêsu và tỏ ra giận dữ với hai ông. Đức Giêsu liền gọi các ông lại và nói: "Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Nhưng giữa anh em thì không được như vậy", và kết luận của Người là:

Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em.

Tham vọng của hai môn đệ muốn có ghế ngối bên tay phải và tay trái của Đức Giêsu trong vinh quang của Người, cho thấy là họ vẫn còn có một ý tưởng nước mà Đức Giêsu đã lập là một vương quốc trần gian, và điều này phản chiếu suy nghĩ của người Do Thái lúc bấy giờ. Họ đã không hiểu rằng "vinh quang" chỉ có thể đạt được bằng cách đi theo con đường thương khó và chết, như Thầy của họ.



/



Page

Blogger Tips and TricksLatest Tips And TricksBlogger Tricks