Long Thành
Thế giới chúng ta đang sống không ngừng phát triển và đổi thay về mọi mặt: đời sống, kinh tế, văn hóa xã hội, khoa học kỹ thuật…v.v… Sự phát triển là tất yếu và cần thiết trong đời sống của con người và xã hội. Tuy nhiên, cùng với mặt tích cực là những điều tốt: sự đầy đủ, thuận lợi và tiện nghi…, nó cũng có mặt tiêu cực là cái xấu: bất công, khoảng cách giàu nghèo ngày càng xa, đặc biệt là môi trường bị ô nhiễm trầm trọng…
ngày tháng năm
Chủ Nhật, 21 tháng 5, 2017
Thứ Bảy, 31 tháng 10, 2015
Việt Nam vào TPP, người Công giáo vào chốn nào?
Nguyễn Khang
Lúc này ba chữ TPP (Trans-Pacific Partnership, Hiệp định Đối tác Thương mại Xuyên Thái bình dương) đang nổi lên với niềm hy vọng kinh tế Việt Nam nhờ vào TPP sẽ khá lên. Nhưng Giáo huấn Xã hội Công giáo nhắc ta rằng:
Kinh tế “chỉ là một khía cạnh và một chiều kích trong toàn bộ hoạt động của con người" (GHXH số 375).
Việt Nam mình giống như cô Kiều:
Bâng khuâng duyên mới?
Ngậm ngùi tình xưa!
Người Việt Nam ngậm ngùi nhớ lại chiến tranh với biết bao xác người, biết bao đổ vỡ, biết bao lý thuyết kinh tế chính trị sụp đổ tan tành, và nay thì vẫn còn tranh luận về đường hướng chính trị kinh tế, vẫn còn chia rẽ nghi kỵ lẫn nhau.
Người Việt Nam bâng khuâng duyên mới TPP, với ước vọng tăng sản xuất và tăng mức tiêu thụ hàng hóa Việt Nam. Sẽ bớt ăn mày ăn xin, sẽ bớt bán thân lao động phương xa, sẽ bớt nhục nhằn khổ ải, bao nhiêu là sẽ bớt sẽ bớt... nhờ duyên mới TPP.
Có người hi vọng qua đó sẽ có cơ may “thoát Trung”. Họ rất phấn khởi với tuyên bố của Thượng nghị sĩ John McCain cho rằng “TPP mạnh hơn 10 hàng không mẫu hạm”. Khi TPP đàm phán thành công, khả năng đối phó với sự bành trướng của Trung quốc sẽ rất đáng kể.
Giữa những bâng khuâng ấy, có “tiếng kêu trong sa mạc" của Giáo Huấn Xã Hội:
"Không được giản lược đời sống con người, cũng như đời sống xã hội của cộng đồng, vào chiều kích vật chất, cho dù của cải vật chất hết sức cần thiết cho sự sống còn và sự cải thiện chất lượng cuộc sống" (GHXH số 375).
Người Công giáo vào chốn nào đây?
Lúc này ba chữ TPP (Trans-Pacific Partnership, Hiệp định Đối tác Thương mại Xuyên Thái bình dương) đang nổi lên với niềm hy vọng kinh tế Việt Nam nhờ vào TPP sẽ khá lên. Nhưng Giáo huấn Xã hội Công giáo nhắc ta rằng:
Kinh tế “chỉ là một khía cạnh và một chiều kích trong toàn bộ hoạt động của con người" (GHXH số 375).
Việt Nam mình giống như cô Kiều:
Bâng khuâng duyên mới?
Ngậm ngùi tình xưa!
Người Việt Nam ngậm ngùi nhớ lại chiến tranh với biết bao xác người, biết bao đổ vỡ, biết bao lý thuyết kinh tế chính trị sụp đổ tan tành, và nay thì vẫn còn tranh luận về đường hướng chính trị kinh tế, vẫn còn chia rẽ nghi kỵ lẫn nhau.
Người Việt Nam bâng khuâng duyên mới TPP, với ước vọng tăng sản xuất và tăng mức tiêu thụ hàng hóa Việt Nam. Sẽ bớt ăn mày ăn xin, sẽ bớt bán thân lao động phương xa, sẽ bớt nhục nhằn khổ ải, bao nhiêu là sẽ bớt sẽ bớt... nhờ duyên mới TPP.
Có người hi vọng qua đó sẽ có cơ may “thoát Trung”. Họ rất phấn khởi với tuyên bố của Thượng nghị sĩ John McCain cho rằng “TPP mạnh hơn 10 hàng không mẫu hạm”. Khi TPP đàm phán thành công, khả năng đối phó với sự bành trướng của Trung quốc sẽ rất đáng kể.
Giữa những bâng khuâng ấy, có “tiếng kêu trong sa mạc" của Giáo Huấn Xã Hội:
"Không được giản lược đời sống con người, cũng như đời sống xã hội của cộng đồng, vào chiều kích vật chất, cho dù của cải vật chất hết sức cần thiết cho sự sống còn và sự cải thiện chất lượng cuộc sống" (GHXH số 375).
Người Công giáo vào chốn nào đây?
Xin vào khung trời "gia tăng cảm thức về Thiên Chúa và sự hiểu biết chính mình là nền tảng của mọi phát triển trọn vẹn xã hội loài người" (GHXH số 376, trích dẫn Giáo lý HTCG, 2441).
Vào TPP, Việt Nam như vào một vận hội mới với nhiều triển vọng, nhất là về mặt kinh tế. Nhưng người Việt Nam Công giáo cần gia tăng cảm thức đức tin và có những suy tư sâu sắc, đầy tính triết học, nhân học và thần học về bản thân, về thân phận kiếp người, về ý nghĩa ở đời, về nơi ta sẽ đến sau khi chết.
Nghĩa là băn khoăn với những vấn đề mà cha ông chúng ta đã từng nêu ra:
Ai sinh ra ta ?
Sống để làm gì?
Chết rồi đi đâu?
và đi đến nhận định:
Sống gửi thác về.
Vào TPP, Việt Nam như vào một vận hội mới với nhiều triển vọng, nhất là về mặt kinh tế. Nhưng người Việt Nam Công giáo cần gia tăng cảm thức đức tin và có những suy tư sâu sắc, đầy tính triết học, nhân học và thần học về bản thân, về thân phận kiếp người, về ý nghĩa ở đời, về nơi ta sẽ đến sau khi chết.
Nghĩa là băn khoăn với những vấn đề mà cha ông chúng ta đã từng nêu ra:
Ai sinh ra ta ?
Sống để làm gì?
Chết rồi đi đâu?
và đi đến nhận định:
Sống gửi thác về.
Đề nghị có ai giúp chúng ta hiểu sâu về TPP?
Đề nghị có ai giúp chúng ta tăng cường "cảm thức về Thiên Chúa và sự hiểu biết chính mình"?
Đề nghị có ai giúp chúng ta tăng cường "cảm thức về Thiên Chúa và sự hiểu biết chính mình"?
Nguồn: Tập san Giáo Huấn Xã hôi Công giáo số 19
ƠN GỌI CỦA NHÀ LÃNH ĐẠO DOANH NGHIỆP
Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, dưới sự chủ trì của Hồng y Turkson, đã phát hành quyển cẩm nang, một vade mecum, có nhan đề Ơn gọi của nhà lãnh đạo doanh nghiệp, nhằm cung cấp những hướng dẫn mang tính thực tiễn về giáo huấn xã hội Công giáo cho giới doanh nhân. Cẩm nang được “trình làng” trong cuộc hội thảo quy tụ 2.000 lãnh đạo doanh nghiệp Kitô giáo ngày 30/3 và 1/4 năm 2012 tại Lyon, Pháp. Tháng 11 năm 2014, cẩm nang phát hành lần thứ tư, có sửa chữa những sai sót và có những thay đổi nhỏ như gọi đức Gioan XXIII và đức Gioan Phaolô II là “Thánh” để phản ánh sự kiện hai vị cùng được tuyên thánh vào tháng 4 năm 2014 và đức Giáo hoàng Phanxicô xuất hiện lần đầu tiên với những trích dẫn từ Tông huấn Niềm vui Tin Mừng.
Thứ Ba, 21 tháng 7, 2015
Giáo huấn xã hội và quyền tự do có sáng kiến kinh tế
Đan Quang Tâm
Chúng ta không được bỏ qua hình thức đặc biệt của cái nghèo bao
gồm việc bị tước đoạt các quyền căn bản của con người, cách riêng là quyền tự
do tôn giáo và quyền tự do có sáng kiến kinh tế” (CA, 42).
Đức Gioan Phaolô II rất hay bàn về tự do. Trong lĩnh vực này, ngài
cũng được mệnh danh là nhà quán quân. Tự do là chủ đề trung tâm của ngài từ khi
còn là giáo sư luân lý tại Đại học Lublin và ngay cả khi đã làm giáo hoàng. Ở
đây chúng ta giới hạn việc nghiên cứu, chỉ tìm hiểu xem ngài đã luận bàn thế
nào về tự do kinh tế.
Đức Gioan Phaolô II bàn về tự do kinh tế
Năm 1987, trong Thông điệp xã hội Sollicitudo Rei Socialis kỷ niệm 20 năm Thông điệp Populorum
Progressio, ngài viết: “Chúng ta không được bỏ qua hình thức đặc
biệt của cái nghèo bao gồm việc bị tước đoạt các quyền căn bản của con người,
cách riêng là quyền tự do tôn giáo
và quyền tự do có sáng kiến kinh tế”
(42).
Đây là hai nhân quyền cơ bản mà ngài luôn kiên quyết bảo vệ, ủng
hộ và đề cao. Khi còn là giám mục trẻ tham dự đủ bốn kỳ họp Công đồng Vatican
II, ngài đã tích cực tham gia góp ý cho dự thảo Tuyên ngôn về Tự do Tôn giáo và
nhiều lần khẳng định “Không có tự do nếu không có sự thật”. Nhà quán quân
về tự do tôn giáo Gioan Phaolô II
đã để lại một bộ giáo huấn phong phú về sự liên kết nội tại giữa tự do và sự
thật, là chìa khóa mở ra giúp ta hiểu ý định sâu xa của Tuyên ngôn Dignitatis Humanae. Ngoài ra, ngài còn
có đóng góp vào từ điển thần học thuật ngữ “quyền tự do có sáng kiến kinh tế”. Đây
cũng là đóng góp và bổ sung của ngài vào từ vựng nhân quyền khi ngài ban hành
Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis nói trên. Bản
Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của
Liện hiệp quốc đã không đề cập đến quyền con người này.
Bốn năm sau, ngài viết tiếp một thông điệp xã hội Centesimus
Annus, lần này để kỷ niệm 100 năm ngày ban hành Thông điệp Rerum Novarum. Ngài nhắc lại những điểm
chính của thông điệp xã hội đầu tiên này: con người phải được tôn trọng vì con
người là hình ảnh của Thiên Chúa và được Người ban sự sống. Ngài nhận định việc
bỏ qua sự kiện này đã dẫn đến cảnh đối xử tàn bạo với người lao động vào thời
Đức Lêô XIII, rồi hai cuộc thế chiến, lò hơi ngạt, các chế độ độc tài tại
phương Đông, hố ngăn cách giàu nghèo. Chủ nghĩa công sản vô thần đã giải thể vì
không tôn trọng phẩm giá và các quyền đi kèm với phẩm giá ấy của con người. Con
người được ban tặng tự do, nhưng do vết thương nguyên tội nên dù có hướng thiện
nhưng vẫn còn có khả năng làm điều ác:
“Hơn nữa, con người, được tạo dựng để hưởng tự do, mang nơi bản
thân mình vết thương nguyên tội, thường xuyên lôi kéo con người hướng về điều
ác, vì thế con người cần đến ơn cứu độ. Không những giáo thuyết này là
một bộ phận hợp thành của mạc khải Kitô giáo, mà còn có giá trị thông diễn
(hermeneutical value) lớn lao giúp ta hiểu được thực tại con người. Con người
hướng đến điều thiện, nhưng cũng có thể làm điều ác. Con người có thể vượt lên
trên lợi lộc trước mắt, mà vẫn gắn bó với nó” (42).
Ngài cảnh báo sự đàn áp quyền tư hữu sẽ “làm cạn kiệt nguồn sáng
kiến và sáng tạo” (trong đó có sáng kiến kinh tế) và xuất hiện nguy cơ biến
chính trị trở thành một thứ “tôn giáo thế tục”:
“Trật tự xã hội càng được ổn định, thì càng lưu ý đến sự kiện này,
và không đặt quyền lợi cá nhân đối nghịch với quyền lợi của xã hội xét như một
tổng thể, nhưng đúng hơn, tìm cách hòa hợp với quyền lợi xã hội một cách hiệu
quả. Thật vậy, nơi đâu quyền lợi cá nhân bị xã hội tước đoạt, thì thay vào đó
là một chế độ cồng kềnh nắm quyền kiểm soát một cách quan liêu, làm cạn kiệt
nguồn sáng kiến và sáng tạo. Khi người ta nghĩ rằng mình nắm được bí quyết tổ
chức một xã hội hoàn hảo không còn điều ác thì họ cũng tưởng là có thể sử dụng
mọi phương tiện, kể cả bạo lực và lừa dối, để thực hiện tổ chức đó. Khi ấy
chính trị trở thành một thứ “tôn giáo thế tục”, có tham vọng xây dựng thiên
đàng ngay ở trần gian này. Nhưng không có một xã hội chính trị nào có quyền tự quyết
và pháp luật của xã hội đó có thể lẫn lộn với Vương
Quốc của Thiên Chúa” (25).
Đức Gioan Phaolô ủng hộ có điều kiện nền kinh tế thị trường được
xây dựng trên tự do, khuyến khích phát huy tự do có sáng kiến trong kinh tế,
chủ trương quyền lợi cá nhân hài hòa với quyền lợi xã hội.
“Theo chiều hướng này, người ta có lý để nói về một cuộc đấu tranh
chống lại một hệ thống kinh tế, được
hiểu là một phương pháp để đảm bảo ưu thế tuyệt đối của tư bản, việc chiếm hữu
các tư liệu sản xuất và đất đai, hơn là tự do và phẩm giá lao động của con người. Khi chiến đấu chống lại hệ thống này, người ta không
thể đề ra đối nghịch nó, như một kiểu mẫu thay thế, hệ thống chủ nghĩa xã hội,
vì hệ thống này thực ra cũng là một thứ chủ nghĩa tư bản Nhà nước, nhưng người
ta có thể đề ra đối nghịch nó với xã hội của tự do lao động, kinh doanh và được
tham dự. Xã hội này không đối nghịch với thị trường, nhưng đòi hỏi thị trường
phải được kiểm soát một cách hợp lý bởi những sức mạnh xã hội và bởi Nhà nước,
sao cho bảo đảm được sự thỏa mãn các nhu cầu căn bản của toàn xã hội” (CA, 35).
Ngài nói hai nhân tố quyết định cho sự sụp đổ của các chế độ áp
bức là “sự vi phạm đối với quyền của các công nhân” và “sự vi phạm các quyền
con người có sáng kiến riêng, được sở hữu tài sản và tự do trong lĩnh vực
kinh tế” (CA, 23, 24).
Tóm
lại, Đức Gioan Phaolô II xem tự do kinh tế là nền tảng của kinh tế doanh nghiệp
hiện đại (SRS, 32). Ngài tái khẳng định Giáo hội quyết tâm dấn thân cho tự do,
xem đó như một điều kiện cần thiết để bảo đảm “phẩm
giá siêu việt của con người” (CA, 46). Tuy nhiên, ngài nhận rằng tự do trong
kinh tế không tuyệt đối, đó chỉ là một nhân tố trong tự do của con người. Khi
đời sống kinh tế trở nên tuyệt đối hóa, nghĩa là khi con người được xem là
người sản xuất hoặc tiêu thụ hàng hóa hơn là một chủ thể sản xuất và tiêu thụ
để sống, thì tự do mất đi tương quan cần thiết của nó đối với nhân vị và rút
cục tha hóa và áp bức con người (CA, 39).
Quyền tự do có sáng kiến kinh tế
Sách Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo
hội (sách TLHTXH) mô tả hoạt động kinh tế “như một lời đáp lại với
tấm lòng tri ân ơn gọi mà Thiên Chúa chìa ra cho mỗi người” (326). Điều này
giúp xua tan khái niệm sai lầm là các ơn gọi “chân chính” chỉ được tìm thấy
trong giáo dục, y tế, hoạt động bác ái hoặc ở hẳn bên trong Giáo hội. Doanh
nhân Công giáo nếu giang tay đón nhận ơn gọi “đặt hoạt động kinh tế và sự
tăng trưởng vật chất phục vụ con người và xã hội”, để rồi “xả thân làm các việc ấy với lòng tin, cậy, mến
của các môn đệ Đức Kitô” thì doanh nghiệp và môi trường kinh tế “cũng có thể
biến thành những địa điểm cứu độ và thánh hoá” (326).
Sách TLHTXH nhấn mạnh: “Học thuyết xã hội của Giáo Hội
coi tự do của con người trong các vấn đề kinh tế là một giá trị căn bản và là
một quyền bất khả chuyển nhượng cần phát huy và bảo vệ”. Sách khẳng định và kêu gọi:“Mọi người
có quyền có sáng kiến về kinh tế, mọi người nên sử dụng hợp pháp các tài
năng của mình, để góp phần làm ra nhiều của cải cho mọi người được hưởng, và để
thu lượm những hoa trái chính đáng do các nỗ lực của mình” (336). Điều
này xây dựng trên những phát biểu tương tự trong các giáo huấn của đức
Giáo hoàng Piô XII cũng như những câu phát biểu trong thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (1988) và Centesimus Annus (1991).
Nhưng sách TLHTXH cũng nói thêm rằng giáo huấn này nhắc ta về “các
hậu quả tiêu cực có thể phát sinh do việc làm suy yếu hay chối bỏ quyền có
sáng kiến về kinh tế” và bảo ta “sáng kiến tự do và có trách nhiệm trong
lĩnh vực kinh tế cũng có thể được định nghĩa là một hành vi phản ánh nhân tính
của con người với tư cách là những chủ thể sáng tạo và có tương quan. Thế nên,
cần trao cho quyền có sáng kiến đó không gian hoạt động rộng lớn. Nhà
Nước có nghĩa vụ luân lý áp dụng những giới hạn nghiêm ngặt chỉ trong những
trường hợp không tương thích giữa việc theo đuổi công ích và loại hình hoạt
động kinh tế được đề xuất hoặc phương thức tiến hành hoạt động kinh tế đó”
(336).
Đáng lưu ý, sách TLHTXH áp dụng những chủ đề này trực tiếp đối với
chủ doanh nghiệp và những người quản lý doanh nghiệp. “Sáng kiến kinh tế là
một thuật ngữ về trí thông minh con người và về sự cần thiết phải đáp ứng các
nhu cầu của con người một cách sáng tạo và hợp tác” (343).
Trên cơ sở này, sách TLHTXH mô tả tinh thần doanh nghiệp không chỉ
là một “đức tính cá nhân” mà còn là một “đức tính xã hội” bởi vì có tinh thần
doanh nghiệp nghĩa là “cùng nhau tìm kiếm những giải pháp thích đáng nhất để
đáp ứng tốt nhất các nhu cầu nảy sinh” (343).
Sách TLHTXH nhận định rằng “Vai trò của các chủ doanh nghiệp và lãnh
đạo doanh nghiệp có tầm quan trọng trung tâm nhìn từ quan điểm xã hội, vì họ ở
ngay tại trung tâm của cả một hệ thống các quan hệ kỹ thuật, thương mại, tài
chính và văn hoá là đặc trưng cho thực tại doanh nghiệp hiện đại” (344).
Doanh nhân, như vậy có một vai trò quan trọng, chính yếu trong đời
sống kinh tế và có cả một ơn gọi hẳn hòi. Họ cũng được gọi để làm vườn nho của
Thiên Chúa. Thiên Chúa thì luôn luôn có sáng kiến đi trước một bước. Chúa Giêsu
không những gọi, mà còn chọn họ: “Không phải các con đã chọn Thầy mà Thầy đã
chọn các con trước”.
Hội đồng Giáo hoàng Công Lý và Hòa bình không những biên soạn sách
TLHTXH để hướng dẫn doanh nhân qua những nguyên tắc và những định hướng như đã
nói trên mà còn tìm cách soạn cẩm nang doanh nghiệp giúp các doanh nhân Công
giáo sống đạo trong môi trường doanh nghiệp theo tinh thần của Hiến chế Vui mừng và Hy vọng khắc phục được tình
trạng phân rẽ giữa đạo và đời (GS, 13) và làm các quyết định kinh doanh theo đúng
các nguyên tắc của giáo huấn xã hội.
Trong đường hướng đó, Hội đồng Giáo hoàng Công Lý và Hòa bình đã
phối hợp với John A. Ryan Institute, một viện nghiên cứu và phổ biến giáo huấn
xã hội thuộc Đại học St. Thomas Hoa Kỳ để biên soạn tài liệu “Ơn gọi Lãnh đạo Doanh
nghiệp” (Vocation of the Business Leader) và tố chức một hội nghị quy tụ
khoảng 2.000 chủ doanh nghiệp vào tháng 3 năm 2112 tại Lyon, Pháp để phổ biến
và thảo luận tài liệu này.
Không còn
nghi ngờ gì nữa, nói theo ngôn ngữ tiếng Anh, được xem là ngôn ngữ thương mại
và kinh doanh, thì “The Church takes business
seriously”.
Thứ Hai, 20 tháng 7, 2015
LÚA ƠI!
Phạm Khiêm
Việt Nam là một đất nước có nghề truyền thống và cơ bản nhất là nông nghiệp. Đất đai, tài nguyên thiên nhiên cũng ưu ái dành cho lĩnh vực này. Người Việt Nam sinh ra đã mang tố chất khởi sự nghề nghiệp này như một yếu tố di truyền.
Với nông nghiệp, chỉ cần có đất canh tác, có sức khỏe là mọi người Việt Nam đều có thể làm lụng, trồng trọt tự nuôi sống mình. Bản chất nghề nông đòi hỏi sự cần cù, chiu khó thì người Việt Nam có sẵn đức tính này.
Thế nhưng điều gì đang xảy ra đây? Đất đai bị lấy mất và bị ngốn vô tội vạ vào những dự án để hoang. Một lượng tiền vô cùng lớn của Nhà nước của xã hội phải bỏ ra để thực hiện giải phóng mặt bằng. Người dân đang yên ổn sinh sống, an cư lập nghiệp trên đất của họ thì bị rơi vào quy hoạch dự án. Họ không chỉ mất nhà, mà họ còn mất đi cả nguồn sống là vườn tược, là đất đai, đồng ruộng để canh tác nuôi sống mình và gia đình. Khi người dân gặp cảnh này thì Nhà nước có trợ cấp nuôi sống họ được không? Không, vì Ngân sách Nhà nước thì hạn hẹp.
Với nông nghiệp, chỉ cần có đất canh tác, có sức khỏe là mọi người Việt Nam đều có thể làm lụng, trồng trọt tự nuôi sống mình. Bản chất nghề nông đòi hỏi sự cần cù, chiu khó thì người Việt Nam có sẵn đức tính này.
Thế nhưng điều gì đang xảy ra đây? Đất đai bị lấy mất và bị ngốn vô tội vạ vào những dự án để hoang. Một lượng tiền vô cùng lớn của Nhà nước của xã hội phải bỏ ra để thực hiện giải phóng mặt bằng. Người dân đang yên ổn sinh sống, an cư lập nghiệp trên đất của họ thì bị rơi vào quy hoạch dự án. Họ không chỉ mất nhà, mà họ còn mất đi cả nguồn sống là vườn tược, là đất đai, đồng ruộng để canh tác nuôi sống mình và gia đình. Khi người dân gặp cảnh này thì Nhà nước có trợ cấp nuôi sống họ được không? Không, vì Ngân sách Nhà nước thì hạn hẹp.
Thứ Năm, 28 tháng 11, 2013
Đức Giáo Hoàng tấn công “nền độc tài” của các thị trường trong tuyên ngôn giáo hoàng
Naomi O'Leary
Đinh Quang Bàn dịch
VATICAN CITY Tue Nov 26, 2013 11:46am EST
(Reuters) - Đức Giáo hoàng Phanxicô tấn công chủ nghĩa tư bản không kềm chế như là "một chế độ độc tài mới" và tha thiết kêu gọi các nhà lãnh đạo toàn cầu hãy chống nạn đói nghèo và bất bình đẳng ngày càng tăng, trong một văn kiện phát hành thứ ba [26 tháng 11 năm 2013], đặt nền tảng cho triều giáo hoàng của ngài và kêu gọi đổi mới Giáo Hội Công Giáo.
Văn kiện 84 trang, được biết đến như một tông huấn, là văn bản lớn đầu tiên ngài soạn thảo một mình trên cương vị giáo hoàng và trình bày nhiều quan điểm chính thức mà ngài đã đọc trong bài giảng và các nhận định kể từ khi ngài trở thành vị giáo hoàng không châu Âu đầu tiên trong 1.300 năm vào tháng 3.
Trong đó, đức Phanxicô đã đi xa hơn các ý kiến trước đó, chỉ trích hệ thống kinh tế toàn cầu, tấn công "thần tượng tiền", và kêu gọi các chính trị gia hãy "tấn công những nguyên nhân mang tính cấu trúc của sự bất bình đẳng" và phấn đấu cung cấp công ăn việc làm, sự chăm sóc sức khỏe và giáo dục cho tất cả công dân.
Thứ Hai, 22 tháng 7, 2013
Vận mệnh dân tộc này nằm trong tay ai?
Kỳ Duyên
Chỉ còn ít ngày nữa là đến ngày kỷ niệm những người lính đã dấn thân cho độc lập, tự do của Tổ quốc- Ngày Thương binh- Liệt sĩ 27/7.
Thì trong tuần, có hai sự kiện, dư âm của nó để lại cho xã hội không ít suy ngẫm, dù cái kết có vẻ có hậu.
Cao, thấp và... kỷ luật
Sự kiện thứ nhất, đó là sau cuộc lấy phiếu tín nhiệm 47 nhân sự cấp cao của Quốc hội (khóa XIII), đến lượt các địa phương lần lượt hoàn thành cuộc lấy phiếu tín nhiệm của tỉnh mình.
Có vẻ có hậu, bởi kết quả cho thấy, không quan chức nào bị tín nhiệm thấp đến mức rơi vào vòng nguy hiểm, phải xem xét các bước xử lý tiếp theo.
Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2013
Từ thiện và niềm tin
Giang Lê
Hai bài viết của 2 trí thức trẻ mà tôi rất ngưỡng mộ làm tôi (và chắc không ít người đọc khác) có nhiều suy nghĩ. Bài đầu của anh Giáp Văn Dương về niềm tin, bài thứ hai về sự thờ ơ của anh Nguyễn Đắc Kiên. Nếu chưa đọc bạn nên bỏ ra vài phút đọc 2 nguyên bản, dù có thể phải trèo tường lửa.
Giáp Văn Dương đúc kết kinh nghiệm sống và làm việc ở các nước phát triển cho rằng họ giàu vì họ tin nhau. Trong khi đó ở VN càng ngày niềm tin càng khó kiếm, một phần vì nó đã bị bào mòn trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, thời bao cấp đói khổ, rồi thị trường thực dụng, một phần vì người VN đã đánh mất ít nhiều tính trung thực, vốn là một giá trị lâu đời. Nguyễn Đắc Kiên, nhìn từ vụ xử Đoàn Văn Vươn, chỉ ra sự thờ ơ, vô trách nhiệm không chỉ của những vị quan tòa xử án mà đã tràn lan trong xã hội VN hiện tại. Từ góc độ này Nguyễn Đắc Kiên cũng đi đến kết luận rằng niềm tin vào xã hội, vào công lý của người dân đang dần biến mất.
Thứ Năm, 11 tháng 4, 2013
Quyền lực của người tiêu dùng
TT - Một lần nữa, trên các trang diễn đàn, mạng xã hội như webtretho, lamchame, Facebook... lại dậy sóng vì vấn đề liên quan đến chất lượng sữa bột cho trẻ em. Người tiêu dùng nổi giận vì cho rằng nhà sản xuất đã lừa dối họ cả về “lý lịch” và chất lượng của sản phẩm sữa. Càng phẫn nộ hơn khi họ liên tiếp đưa ra những bằng chứng cáo buộc nhà sản xuất làm sai, trong khi các cơ quan chức năng - những nơi có trong tay “cây gậy” luật pháp - lại chưa có động thái rốt ráo bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng.
Vì thế, trên mạng xã hội Facebook đã có tới hơn 3.800 người tiêu dùng tập hợp lại để cùng nhau tìm ra chất lượng thật sự của sữa dê Danlait.
Sự việc ồn ào trở lại khi một bản kết quả kiểm nghiệm chất lượng sữa dê Danlait 1 (dành cho trẻ 0-12 tháng tuổi) của Viện Pasteur TP.HCM được đăng tải lên các trang mạng đã ngay lập tức được truyền đi với tốc độ chóng mặt. Chất lượng sữa có vấn đề nghiêm trọng: độ đạm chỉ đạt 4,13%, thay vì mức 17,6% như công bố trên nhãn hàng của Công ty TNHH Mạnh Cầm (trụ sở tại Hà Nội, chủ thương hiệu Danlait). Thêm nữa, hàm lượng kali và natri vượt mức cho phép nhiều lần so với tiêu chuẩn của Codex.
Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2013
Nguy và Cơ
Một lập luận tôi nghe khá thường xuyên trong những lúc trà dư tửu hậu gần đây. Đó là tình hình suy thoái, nguy hiểm của chúng ta chứa nhiều “cơ hội tiềm năng” cho những doanh nghiệp biết nắm bắt và thích ứng. Thậm chí, một vài chuyên gia còn viết bài về “cơ may” của Việt Nam trong cơn khủng hoảng này.
Ai cũng đều đưa ra một minh chứng là từ ngàn xưa, chữ Trung Quốc đã ghi rõ “cơ” nằm giữa “nguy”. Những đầu óc đình đám nhất của chúng ta luôn giả định là các tổ tiên Tàu đã nói thế thì đây là chân lý rồi. Phận con cái phải nghe theo thôi. Thậm chí, một đại học giả còn nhắc chúng ta phải mang ơn mẫu quốc về cơm áo cũng như văn hóa đến đời đời con cháu sau này.
Ai cũng công nhận đi tìm “cơ” giữa “nguy” là một thái độ tich cực và sáng tạo. Hành động thể hiện một tư duy dựa trên niềm tin của tuổi trẻ, bất chấp những thất vọng của tình thế.
Tuy nhiên, khi sự lạc quan trở nên mù lòa và mất đi logic hay khoa học, “cơ” trong “nguy” trở thành một trò tuyên truyền dựng lên bởi các chánh trị gia để đa số người dân quên đi một thực tế khá bẽ bàng. Không có “cơ” nào cho một nền kinh tế mà phí quản lý cao hơn 42% GDP (mỗi đơn vị phải chi ra 42 xu mỗi đồng cho giá thành, chưa tính đến các phí tổn sản xuất hay tài chánh khác). Không có “cơ” nào cho một hệ thống tài chánh mà 63% đầu tư chạy vào bong bóng bất động sản và nguy cơ nợ xấu có thể vượt qua 38% GDP. Không có “cơ” nào cho một cơ chế mà 68% đầu tư bị các doanh nghiệp nhà nước chiếm lĩnh theo lối kinh doanh OPM (Other People’s Money).
Bao giờ thì chúng ta hiểu ra rằng “cơ” đã đi mất từ lâu. Chỉ còn “nguy” và “nguy”.
Alan Phan
Nguồn gocnhinalan
Thứ Hai, 24 tháng 12, 2012
Một thời để Người Kitô hữu nhập thế
Bài của Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI viết cho báo Financial Times (Thời báo Kinh tế Anh) ra ngày 20.12.2012
Giáng sinh là một thời gian vui vẻ hân hoan và một dịp để suy tư sâu sắc, Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI nói:
“Của Xêda, trả về Xêda; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa” là câu trả lời của Đức Giêsu khi được hỏi về việc đóng thuế. Dĩ nhiên, những kẻ hỏi Người đang gài bẫy Người. Họ muốn buộc Người phải đứng về phía nào trong cuộc tranh luận chính trị nảy lửa về việc cai trị của Rôma tại đất nước Israel. Cái bẫy nằm ở chỗ này: Nếu Đức Giêsu quả thực là Đấng Mêsia được mong đợi từ lâu, thì Người chắc chắn sẽ chống lại những kẻ thống trị Rôma. Cho nên câu hỏi đã được suy tính nhằm làm cho Đức Giêsu phải lộ diện như một mối đe dọa đối với chế độ hoặc như một kẻ lừa đảo.
Câu trả lời của Đức Giêsu khéo léo chuyển cuộc tranh luận lên một bình diện cao hơn, nhẹ nhàng khuyến cáo đừng có chính trị hóa tôn giáo lẫn thần thánh hóa quyền lực nhất thời, để mà mê mải tìm kiếm của cải. Những kẻ đang nghe Người nói cần được nhắc nhở rằng Đấng Mêsia không phải là Xêda, và Xêda không phải là Thiên Chúa. Vương quốc mà Đức Giêsu đã đến để thiết lập thuộc về một lĩnh vực hoàn toàn cao hơn. Như Người đã bảo Phongxiô Philatô: “Nước tôi không thuộc về thế gian này”.
Thứ Hai, 10 tháng 12, 2012
Tính hưởng thụ
Việc con người sinh ra ở tính thiện hay tính ác đã đưa các triết gia phương Đông đến hai thái cực. Mạnh Tử thì nói: “Nhân chi sơ tính bản thiện”. Tuân Tử bảo ngược lại: “Nhân chi sơ tính bản ác”. Phương Tây họ không cực đoan như vậy. Họ cho rằng một đứa bé sơ sinh chỉ là một thực thể ẩn chứa những gì liên quan, ảnh hưởng đến con người sau này, như là thể chất, trí não, nhân cách, năng khiếu bẩm sinh v.v… mà thôi.
Ở đây, tôi chỉ xin bàn một khía cạnh nhỏ của thiện và ác, đó là tính hưởng thụ: “Nhân chi sơ tính hưởng thụ”. Hưởng thụ như thế nào, hưởng thụ cái gì và giới hạn đến đâu?
Cứ coi con người sinh ra vốn không thiện, không ác thì hãy xem “tính hưởng thụ” là chắc có. Tôi tạm gọi cái bào thai là “hắn”, vì đằng nào hắn cũng sinh ra để mang nặng kiếp người. Khi hắn ở trong bụng mẹ, quãng sáu bảy tháng gì đó hắn đã biết lựa thế nằm cho êm, đó là hưởng thụ, để đạt được điều đó hắn quẫy đạp mẹ hắn. Ta xem hành động đó là thiện hay ác? Rõ ràng tính hưởng thụ còn có trước lúc sinh ra!
Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2012
CÁI GIÁ PHẢI TRẢ KHI GIỠN MẶT VỚI KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Đến khi người dân cùng kiệt vì thiếu đói thì nhà nước mới hiểu ra rằng cần phải quay về với kinh tế thị trường và sự thay đổi nầy đã giúp cho người dân được cởi trói, hồ hởi bung ra làm ăn. Bộ mặt đất nước từ đó thay đổi.
Nhẽ ra phải nương theo đà đi lên ấy mà tiếp tục thay đổi và hoàn thiện để phù hợp với cơ chế mới thì nhà nước lại muốn quay lại cỡi lên để "định hướng" thị trường.
Nhưng kinh tế thị trường có quy luật vận hành riêng của nó. Để kiểm soát được nó cần phải có sự am hiểu và kinh nghiệm dày dạn qua hàng trăm năm sống chết trong nó, qua bao lần điêu đứng vì nó bởi khủng hoảng như Mỹ và các nước tiến tiến đã trải qua.
Thứ Năm, 22 tháng 11, 2012
Điều tôi thích nhất nơi Thông điệp 'Caritas in Veritate'
Thông Điệp Caritas In Veritate (Bác ái trong sự thật), mà Đức Giêsu Kitô đã làm chính bằng cuộc sống trần gian của mình và nhất là bằng cái chết và sự phục sinh của Người, là động lực chính cho sự phát triển đích thực mọi người và toàn thể nhân loại. Tình Yêu – caritas – là một sức mạnh phi thường dẫn dắt người ta có sự lựa chọn dấn thân can đảm và quảng đại trong lĩnh vực công lý và hòa bình. Đó là một sức mạnh bắt nguồn từ Thiên Chúa, Tình Yêu Vĩnh Cửu và Sự Thật Tuyệt Đối. Mỗi người tìm thấy tính bản thiện của mình qua việc gắn bó với kế hoạch của Thiên Chúa dành cho mình, để thực hiện đầy đủ: trong kế hoạch này, họ tìm ra sự thật về mình, và bằng cách gắn bó với sự thật đó họ trở nên tự do. Bảo vệ sự thật, phát biểu sự thật với sự khiêm tốn và xác tín, và làm chứng cho sự thật trong cuộc sống, do đó, là các hình thức bác ái đòi buộc ta và không thể thiếu được.
Thông điệp đã bắt đầu như thế!
Tôi download ngay khi Thông điệp được đưa lên website của Vatican và tôi đọc qua một lần, rất nhanh và hăm hở, rồi tôi quay lại đọc một lần nữa, tô sáng những đoạn tôi thích bằng bút dạ quang đỏ và viết ra các nhận định bằng mực xanh và tự hỏi liệu có bao nhiêu điểm Đức Bênêđíctô XVI nêu ra nhỉ. Tôi thấy Thông điệp này thật phong phú và sâu sắc, đầy thách đố cho đến nỗi tôi tự nhủ liệu thiên hạ sẽ đón nhận ra sao nhỉ. Nhưng tôi bắt đầu nói với bạn bè về Thông điệp và bảo với họ rằng điều tôi thích nhất là khả năng ngài diễn giải và đan kết đồng thời bốn chân lý quan trọng: hai nhóm các vấn đề (công bằng xã hội để phát triển và đạo đức cá nhân) và chiếu ánh sáng trên các nhóm vấn đề ấy từ hai góc độ (đức tin và lý trí).
Thông điệp này không chỉ là một tiếng kêu đánh thức nhưng còn là một cẩm nang hướng dẫn chúng ta hành động.
Đức Giáo hoàng Bênêđíctô là người nói về tiền bạc
Phân tích tốt nhất chưa từng có về khủng hoảng kinh tế toàn cầu bảo rằng con người, chứ không phải luật lệ, phải thay đổi ra sao.
![]() |
| Lord Griffiths, Phó Chủ tịch của Goldman Sachs International |
Khi Hồng y Ratzinger được bầu làm Giáo hoàng, các điểm mạnh và yếu của ngài dường như rõ ràng. Đây là một thần học gia, triết gia và người bảo vệ xuất sắc chân lý Kitô giáo, nhưng một con người khó có thể làm cho sứ điệp của Giáo hội có liên quan đến thế giới hôm nay. Điều này giờ đây trông thật giản đơn biết bao dưới ánh sáng thông điệp thứ ba của ngài, trong đó Đức Giáo hoàng Bênêđíctô XVI chạm trán, đối đầu với cuộc khủng hoảng tài chính đã làm rung chuyển thế giới.
TÓM LƯỢC THÔNG ĐIỆP BÁC ÁI TRONG CHÂN LÝ
Sau đây là những đoạn nổi bật trong Thông điệp Bác Ái trong Chân Lý dành riêng cho sự phát triển con người trọn vẹn (gồm : dẫn nhập, sáu chương và kết luận). Trong phần dẫn nhập, Đức Thánh Cha Biển-Đức XVI nhắc lại rằng bác ái là con đường vương giả của học thuyết xã hội Giáo Hội, kể cả khi nó bị hiểu sai và không được bao gồm trong vốn liếng hiểu biết về đạo đức học. Thế nhưng, “một Kitô giáo sống bác ái mà không có chân lý, thì có nguy cơ chỉ là một danh mục liệt kê những tình cảm tốt đẹp, có ích cho sự sống xã hội, nhưng vẫn nằm ở bên lề… Sự phát triển cần phải có chân lý” và Đức Thánh Cha giữ lại hai tiêu chí hành động đạo đức xuất phát từ khái niệm Bác Ái trong Chân Lý. Công Bằng và công ích. Mọi Kitô hữu được mời gọi sống bác ái, cả trong vai trò xã hội của họ.
Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2012
Hiểu như thế nào về kinh doanh theo mạng (MLM)?
Thời gian vừa qua, Chúa Nhật các ngày 21/10/2012 và 04/11/2012, nhóm học hỏi Giáo huấn Xã hội Công giáo của các bạn trẻ đã khởi xướng và trình bày về lãnh vực kinh doanh theo mạng (MLM) hiện nay. Thành thật mà nói, cá nhân tôi ngay từ đầu đã có những suy nghĩ không tốt về MLM, thành kiến này xuất phát từ 2 thái độ trái chiều: Dư luận xấu hiện nay về MLM và Sức hút MLM trở thành niềm tin của nhiều người. Vậy đâu là sự thật, chúng ta phải nhìn nhận MLM như thế nào? Mong các anh chị nhóm lớn và các bạn trẻ cho tôi cơ hội trình bày về MLM theo quan điểm của cá nhân tôi, với hy vọng duy nhất là tôi, các anh chị nhóm lớn và các bạn trẻ thông cảm, hiểu nhau hơn trong 1 vấn đề xã hội cụ thể.
Thứ Hai, 8 tháng 10, 2012
“Xin hãy đứng đợi nhân dân mình”!
TT - Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đang chậm lại. Ngày 3-10, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã hạ mức tăng trưởng 2012 của Trung Quốc từ 8,7% còn 7,7%, mức thấp nhất kể từ năm 2009. Thời kỳ tăng trưởng hai con số ở Trung Quốc “sắp kết thúc”, như chuyên gia kinh tế Changyong Rhee của ADB nhận định.
![]() |
| Toàn cảnh tai nạn tàu lửa ở Ôn Châu ngày 23-7-2011 - Ảnh: AFP |
Sự giảm tốc này đang được nhìn nhận và đánh giá như thế nào từ bên ngoài lẫn bên trong Trung Quốc?
Từ hiểm họa vàng đến hiểm họa trẻ!
Nhìn từ góc độ bên ngoài, qua báo chí thế giới, dường như thời khắc này đang được cảm nhận với một dự cảm đầy lo âu!
Thứ Hai, 1 tháng 10, 2012
Cung điện... bêtông cho du khách balô
TTCT - Đất nước Albania ở vùng Balkan có hàng trăm ngàn boongke bị bỏ quên từ chế độ trước đây, và một dự án chung giữa Đức - Albania đã giúp mang lại chức năng mới cho những boongke này - các khách sạn giá rẻ cho dân du lịch ít tiền.
| Albania có 750.000 boongke kiểu lều tuyết như thế này |
Từng là một trong những quốc gia bị cô lập nhất thế giới dưới chế độ Enver Hoxha (1908-1985) vào những năm 1970 và 1980, Hoxha đã rất lo sợ bị tấn công, và cho xây hàng loạt boongke để làm chỗ trú ẩn cho người dân trong lúc khẩn cấp. Albania có 750.000 boongke kiểu lều tuyết như thế.
Thứ Tư, 22 tháng 8, 2012
“Bầu” Kiên - sự cảnh tỉnh cho những ai còn ý định “xây nhà trên cát”
Trong giai đoạn khủng hoảng kỳ đầu của giai đoạn đổi mới (1997 – 2000) ở Việt Nam pha trộn sự khủng hoảng tài chính của một số nước Châu Á. Công ty Minh Phụng – EPCO bị điều tra và Tăng Minh Phụng bị bắt truy tố về tội lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa. Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước vào thời điểm đó, một doanh nghiệp chỉ được vay vốn không quá 10% vốn tự có, để có thể được vay vốn, Minh Phụng đã thành lập hàng loạt công ty con, câu kết với các quan chức ngân hàng sử dụng trên 40 pháp nhân để vay vốn. Tính đến khi xảy ra vụ án, Minh Phụng đã thực hiện trên 600 hợp đồng tín dụng với 7 ngân hàng, với tổng dư nợ hàng ngàn tỷ đồng và hàng chục triệu USD.
Khủng hoảng tài chính năm 2012 với việc đóng băng thị trường bất động sản và nợ xấu giữa liên ngân hàng kèm theo đó là tình trạng bất ổn trong nội bộ đảng. Việc lợi dụng các chính sách điều chỉnh để thâu tóm lẫn nhau trên thị trường tài chính mà dư luận mới đây cho rằng, người đứng đằng sau là ông Nguyễn Đức Kiên, một trong những người giàu nhất Việt Nam và là cổ đông của rất nhiều ngân hàng hiện nay.



















