ngày tháng năm

Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2013

50 năm trước: Bóng người hòa bình (5)

Vũ Khởi Phụng

VRNs (18.04.2013) – Hà Nội - 23/10/1962 Trong những giờ phút toàn thế giới căng thẳng ấy, Ðức Gioan XXIII không biết rằng ở một nơi rất xa đang mở ra cánh cửa cho ngài đem lời hòa bình vào nơi máu lửa. Nơi đó ở bên Mỹ, nhưng không phải ở nơi đầu não quyền lực là Washington, nhưng ở Bang Massachusetts trên miền Ðông Bắc. Hai người tiên phong mở đường cho Ðức Gioan XXIII là một nhà báo rất nổi tiếng người Mỹ và một linh mục Dòng Ða Minh người Bỉ.

Nhà báo là Norman Cousins (1915-1990), một người đã tỏ ra có năng khiếu đặc biệt về báo chí từ ngày còn ở trung học. Năm 1934 ông làm tổng biên tập Tuần San Saturday Review, khiến cho báo bán tăng từ 20 000 lên 650 000 ấn bản. Ngày 6/8/1945, Mỹ thả trái bom nguyên tử đầu tiên xuống Hiroshima, Nhật Bản, hơn 100 000 người chết tức khắc và rất nhiều người đau đớn quằn quại về các di chứng cho đến hết đời. Biến cố này có tác động rất lớn đến Norman Cousins. Ngày hôm ấy ông viết bài báo “Con người hiện đại đã lỗi thời” (The Modern Man is Obsolete). Ông cảm thấy mình như mang trọng tội với những nạn nhân của bom nguyên tử. Trong bài xã luận đó ông bàn về những hệ lụy xã hội và chính trị tiềm ẩn trong trái bom nguyên tử. Bài báo được phổ biến trên khắp nước Mỹ và được rất nhiều người hưởng ứng. Từ đó Cousins dành rất nhiều công sức để cứu giúp các nạn nhân sống sót sau hai trái bom nguyên tử thả xuống nước Nhật.

Năm 1950, ông chủ xướng Liên bang thế giới và Giải trang hạt nhân. Năm 1953, ông viết cuốn sách “Ai lên tiếng cho con người” (Who Speaks for Man?) và làm chủ tịch Hiệp hội Liên bang thế giới (World Federalist Association). Ðiều làm Cousins hết sức hãnh diện là ông được Nhà Bác Học Albert Einstein mời tham gia thảo luận ở Ðại Học Princeton. Einstein, cũng như nhiều nhà bác học khác, sau khi góp phần giúp chính phủ mình tạo được võ khí hạt nhân, đã luôn cảm thấy lương tâm dày vò và ám ảnh vì những hậu quả khủng khiếp do phát minh của mình. Einstein cũng như Cousins đều cảm thấy rằng thế giới đi đến thảm họa tận diệt nếu không chận được cuộc chạy đua võ khí hạt nhân. Cũng trong tinh thần đó, năm 1960, Cousins chủ xướng Hội Thảo Mỹ-Xô ở Dartmouth để thăng tiến hòa bình: Dartmouth, Massachusetts, là nơi đầu tiên quy tụ các viện sĩ, văn sĩ, bác học Mỹ và Liên Xô, mỗi bên chừng hai mươi người hội thảo với nhau trong khuôn khổ không chính thức và phi chính phủ để suy nghĩ về nhu cầu hòa bình thế giới, và làm thế nào để củng cố, tạo lập hòa bình. Cuộc hội thảo này diễn ra hàng năm, gọi là không chính thức và phi chính phủ cho dễ nói chuyện, thật ra các nhân vật có địa vị cao đó vẫn có rất nhiều quan hệ với các giới cầm quyền cả hai bên. Năm 1962 này họ vừa họp được một ngày ở Andover thì bài diễn văn tối 22/10 của Kennedy đã công khai hóa cuộc khủng hoảng nghiêm trọng khiến mọi tham dự viên đều bức xúc.

Còn vị linh mục là cha Felix Morlion (1904-1987), người Bỉ. Hồi còn niên thiếu, cha Morlion là người vô thần, nhưng đến năm 21 tuổi cha trở lại đạo Công Giáo, rồi vào tu Dòng Ða Minh và chịu chức linh mục năm 1932. Cha là người sáng lập Liên Hiệp Quốc Tế Vì Chúa (International Pro Deo Union), còn được biết đến dưới danh hiệu Phong Trào Nhân Dân Hợp Nhất (United People Movement), đó là một hiệp hội độc lập muốn tạo lập đoàn kết trên khắp thế giới giữa những nhà lãnh đạo trẻ, không phân biệt tôn giáo hay chủng tộc, trong các lãnh vực chính trị, giáo dục, văn hóa, tôn giáo. Ấn phẩm của Phong Trào lưu hành ở 152 nước.

Hồi Thế Chiến Thứ Hai, cha ngấm ngầm chống Ðức Quốc Xã bằng cách giúp người Do Thái trốn lánh an toàn. Ðến khi bị Mật Vụ Gestapo treo giá cha một triệu đôla, thì cha thoát thân qua ngã Tây Ban Nha rồi tiếp tục hoạt động ở New York. Thế chiến chấm dứt, được Ðức Giáo Hoàng Piô XII nâng đỡ, cha sáng lập và điều hành Ðại học Quốc tế các Khoa học Xã hội. Nhiều sinh viên, không phân biệt tôn giáo đã học và tốt nghiệp ở Ðại Học này, trong đó có nhiều người về sau làm thủ tướng Ý . Sau khi Ðức Piô XII qua đời, cha được Ðức Giáo Hoàng Gioan XXIII tiếp tục nâng đỡ, cùng với Ðức Hồng Y Montini, trong ít tháng nữa sẽ là Giáo Hoàng Phaolô VI.

Norman Cousins nhận xét về cha Morlion rằng cha “là nhà trung gian hòa giải đã mở rộng rất nhiều lãnh vực đối thoại giữa các nền dân chủ phương Tây và các nước Ðông Âu. Cha là mẫu người hoạt động không hề ngơi, luôn trình bày trước các vị lãnh đạo chính trị và tôn giáo khắp các nước hết ý tưởng này đến dự phóng khác”.

Năm 1962 cha đi Mỹ cổ võ cho các công trình của cha và đến Andover thăm Cousins đúng vào lúc cuộc khủng hoảng Cuba bùng nổ. Ðã gần nhau về tư tưởng, lại gặp nhau đúng lúc tình hình sục sôi, hai người bạn có rất nhiều điều chia sẻ với nhau.

Về sau, trong một bài viết trên tờ Saturday Review, Cousins tóm tắt ý tưởng của cha Morlion như sau: “Ðức Giáo Hoàng can thiệp vào vụ Cuba là sự cốt yếu và có thể thực hiện được, bởi vì tạo cho cả hai bên cơ hội đáp ứng một đề nghị của người ngoại cuộc, chứ còn cùng một đề nghị đó mà do một trong hai bên đưa ra thì bên đối phương sẽ bác bỏ ngay, bất kể nó cao kiến như thế nào”.

Ý tưởng của cha Morlion không phải vô căn cứ. Ngay trong ngày 23 đó đã có trao đổi thư từ giữa Kennedy và Khrushchev, nhưng chưa có kết quả. Thư của ông Khrushchev rất cương quyết: “Nước Mỹ đã công khai chọn lựa con đường vi phạm thô bạo Hiến Chương Liên Hợp Quốc, vi phạm các tiêu chuẩn quốc tế và tự do đi lại trên biển khơi, đồng thời gây hấn với Cuba và Liên Xô … Chúng tôi không thể công nhận quyền của nước Mỹ được kiểm soát các võ khí cần thiết cho Cộng Hòa Cuba để tăng cường khả năng quốc phòng… Chúng tôi tái khẳng định võ khí ở Cuba… chỉ có mục đích phòng thủ… chống lại mũi tấn công của một cuộc xâm lăng.”

Cuối thư ông Khrushchev “hy vọng Chính Phủ Mỹ sẽ có tầm nhìn và từ bỏ những hành động Mỹ đang theo đuổi, vì hậu quả sẽ là thảm họa cho hòa bình thế giới.”

Thư hồi đáp của Kennedy cũng trong ngày 23 này một lần nữa tố cáo Liên Xô đã “lén lút cung cấp hỏa tiễn tầm xa cho Cuba” và bày tỏ quan tâm là “tình hình đã khó kiểm soát rồi, cả hai chúng ta không nên làm một điều gì khiến xảy ra những biến cố còn khó kiểm soát hơn nữa”. Kennedy “hy vọng ngài sẽ ra chỉ thị để các tàu đi Cuba đừng thách thức lệnh cấm vận đã được OAS ban hành hợp pháp” (OAS là Organisation of American States, Tổ Chức các Quốc Gia Châu Mỹ).

Như vậy là không bên nào nhượng bộ bên nào, tuy cả hai bên đều cảnh báo về hiểm họa đại chiến. Trong thực tế, các dấu hiệu leo thang rõ nét dần. Như bức thư của Kennedy cho thấy, các quốc gia Châu Mỹ (tất nhiên trừ Cuba) đã áp dụng các điều khoản của hiệp ước thành lập OAS và nhất trí cùng tham gia cấm vận với Mỹ. Các nước như Argentina, Venezuela, , Colombia, Cộng Hòa Dominicana đã gửi máy bay, tàu chiến và dành căn cứ quân sự để tham gia cấm vận Cuba. Tổng Thống Kennedy công bố: lệnh cấm vận sẽ có hiệu lực bắt đầu từ 10g sáng hôm sau, 24/10. Mỹ cho 6 máy bay phản lực Crusaders bay những chuyến do thám rất sát mặt đất trong lãnh thổ Cuba. Cũng có tin tàu ngầm của Liên Xô đã đi vào vùng biển Caribê.

Ở Andover, Cousins và nhiều người tham gia hội thảo cho rằng cha Morlion có lý. Chiều hôm ấy, vị linh mục Dòng Ða Minh quyết định điện thoại về Vatican. Ở đầu dây bên kia là Ðức Ông Igino Cardinale, Trưởng Ban Nghi Lễ Ðiện Vatican. Ở Rôma lúc này trời đã tối. Ðức Ông Cardinale hứa trình bày việc này lên Ðức Thánh Cha càng sớm càng tốt. Vài tiếng sau, vị giáo chức Vatican gọi lại cho cha Morlion: chính Ðức Giáo Hoàng cũng đang rất lo âu về tình hình vùng biển chung quanh Cuba; Ngài sợ rằng hai Ðại Cường cố chấp thì sẽ đẩy thế giới vào một cuộc hủy diệt; Ngài đã sẳn sàng can thiệp, tuy nhiên, ngài thận trọng muốn thăm dò phản ứng của đôi bên nếu ngài lên tiếng. Norman Cousins liền điện thoại cho Bạch Cung, nói chuyện với Ted Sorensen, một cố vấn của Kennedy…

(còn tiếp)

Nguồn DCCT

Page

Blogger Tips and TricksLatest Tips And TricksBlogger Tricks